Kiến tạo một nền đại học thực thụ

Kiến thiết một nền giáo dục đại học thực thụ và tạo sinh khí cho nó là điều kiện tiên quyết để đưa nước ta trở nên giàu mạnh và văn minh. Không thể có một nền đại học thực thụ nếu không có tự do học thuật.

Tuy có hơn 300 trường đại học nhưng nước ta vẫn chưa có một nền đại học thực thụ. Do vậy không đáng ngạc nhiên khi các trường đại học của ta lạc hậu ngay cả với các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á. Với một đất nước hơn 90 triệu dân, lại đang ở cuối thời kỳ dân số vàng, đây là một cơ hội bị bỏ lỡ, đồng thời là một bất lợi to lớn khi hội nhập và cạnh tranh toàn cầu. Kinh nghiệm thế giới cho thấy bên cạnh năng suất và thể chế, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là một trụ cột cho phát triển kinh tế.

Tự do học thuật – thành tố thiết yếu của một nền đại học thực thụ

Khác với giáo dục phổ thông, mục đích của giáo dục đại học không dừng lại ở việc truyền trao tri thức có sẵn mà quan trọng hơn là đi tìm chân lý thông qua việc phát triển tri thức mới. Để thực hiện mục đích này, tự do học thuật – được hiểu là tự do giảng dạy, nghiên cứu và thảo luận khoa học, tự do công bố kết quả nghiên cứu, và tự do diễn ngôn trên tinh thần khoa học – trở thành một tiền đề thiết yếu.

Rõ ràng không thể đi đến chân lý nếu không có sự cọ xát và kiểm định các học thuyết hay quan điểm khác nhau. Điều này phụ thuộc vào quyền lựa chọn chủ đề nghiên cứu không bị giới hạn bởi những cấm kỵ và kiểm duyệt, cũng như quyền tự do công bố kết quả nghiên cứu, ngay cả khi chúng không cổ xúy cho những giáo điều định sẵn.

Những hạn chế trong tự do học thuật ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ tình trạng chính trị hóa và can thiệp quá mức của Nhà nước vào đại học, từ đó dẫn tới sự thiếu tự chủ của các cơ sở đào tạo đại học và mất dần ý thức tự do học thuật của giới hàn lâm cũng như của toàn xã hội.

Tương tự như vậy, chân lý cũng sẽ không được hiển lộ trong môi trường bị chính trị hóa hay hành chính hóa cao độ, khi ngân sách nghiên cứu bị phân bổ thiên lệch, không dựa vào chuẩn mực khoa học, hay khi giảng viên và nhà nghiên cứu có thể dễ dàng bị cách chức hay hủy văn bằng chỉ vì diễn ngôn các quan điểm không chính thống. 

Những hạn chế trong tự do học thuật ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ tình trạng chính trị hóa và can thiệp quá mức của Nhà nước vào đại học, từ đó dẫn tới sự thiếu tự chủ của các cơ sở đào tạo đại học và mất dần ý thức tự do học thuật của giới hàn lâm cũng như của toàn xã hội.

Tự do học thuật, trách nhiệm học thuật và dấu ấn nhà nước

Cũng như các quyền tự do khác, tự do học thuật luôn đi đôi với trách nhiệm học thuật, trong đó quan trọng nhất là sự khách quan và trung thành với chân lý, sự tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức và chuyên môn, sự tôn trọng quyền tự do học thuật của những thành viên khác trong cộng đồng học thuật và đối xử công bằng với những quan điểm học thuật khác biệt.

Việc thực hiện quyền tự do học thuật phụ thuộc rất nhiều vào ý chí và chính sách của nhà nước.

Ở một thái cực, các nhà nước không có tự do học thuật thường cai trị bằng cách gieo rắc nỗi sợ hãi trong xã hội và giới hàn lâm.

Ở một cực khác, trong các xã hội tiên tiến, quyền tự do học thuật được nhà nước bảo vệ vì nó được coi là nền tảng thiết yếu để phát triển tri thức và phụng sự xã hội, và do đó là trụ cột quan trọng của mọi xã hội dân chủ và văn minh. Ở các nước này, chính quyền kiềm chế can thiệp vào quyền tự chủ đại học và tự do học thuật vì họ biết rằng tri thức là nền tảng của sức mạnh quốc gia, đồng thời họ có niềm tin vào bản chất lành mạnh, năng lực tự quản và tự sửa sai của cộng đồng học thuật.

Những nút thắt của Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay có nhiều nút thắt đối với về tự do học thuật. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất lý giải cho sự lạc hậu của nền đại học nước ta, đặc biệt là của các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Một hệ quả là các ngành này không đáp ứng được nhu cầu phát triển chung của đất nước cũng như nhu cầu của bản thân hệ thống chính trị và Nhà nước.

Một ví dụ gần đây là khi phải đối diện với Trung Quốc trong các tranh chấp chủ quyền trên biển, các nhà khoa học ở các trường đại học và viện nghiên cứu của Việt Nam nhìn chung phản ứng kém hiệu quả trên các diễn đàn học thuật quốc tế bởi nhiều vấn đề từ lâu chỉ được thảo luận chủ yếu trong nội bộ Đảng – Nhà nước, và do vậy nằm ngoài địa hạt nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội Việt Nam nói chung. 

Bản thân xã hội Việt Nam cũng ít coi trọng tự do học thuật. Nếu như trước đây, mục đích chủ yếu của việc đi học là để đỗ đạt ra làm quan, trở thành tôi trung, thì hiện nay mục đích chủ yếu của việc học đại học là có tấm bằng để tìm việc làm. Những giảng viên mà mối quan tâm hàng đầu chỉ là giữ được chỗ làm và thăng quan tiến chức thì cũng chẳng cần đến tự do học thuật. Với các đại học tư thục, mà ở Việt Nam vốn được tổ chức và quản trị như những công ty cổ phần, thì tối đa hóa lợi nhuận, chứ không phải tự do học thuật, trở thành mục tiêu hàng đầu.

Chương trình đào tạo đại học hiện nay còn nhiều gò bó. Trong một thời gian dài, các yêu cầu bắt buộc về đào tạo chính trị, việc áp đặt chương trình khung cùng với thủ tục xin phép mở ngành mới phiền phức khiến cho các trường đại học trên thực tế không có nhiều “bậc tự do” trong việc thiết kế chương trình và nội dung đào tạo.

………………………………………..

>> Xem thêm chi tiết bài viết

Theo Vũ Thành Tự Anh (*) 
(Nguồn: Thesaigontimes, ngày 3/09/2015)

(*) Giảng viên của Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) và thành viên của nhóm Đối thoại giáo dục Việt Nam (VED) –  Bài viết này thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả và không nhất thiết phản ảnh quan điểm của FETP hay VED.

Danh mục liên quan

Thông tin chuyên đề Tin Hoa Sen
image