40 năm Việt Nam: cảm nhận từ Tokyo

Ngày 30-4-1975 đến với tôi tại Tokyo. Ý nghĩ đầu tiên trong tôi khi nghe tin chiến tranh chấm dứt là đất nước hòa bình rồi, thời đại mới sắp đến rồi. Những hy sinh, mất mát quá lớn của cuộc chiến, những lo âu, lo sợ khi cuộc chiến còn tiếp diễn, làm cho mọi người chờ đón hòa bình, từng ngày khao khát thấy hòa bình, nên khi mong ước trở thành hiện thực thì sự cảm nhận trở nên sâu sắc.

Tối hôm đó tự nhiên tôi hát thầm Trịnh Công Sơn:

Ta đã thấy gì trong đêm nay

Bàn tay trăm vạn bàn tay…

…Rừng núi loan tin đến mọi miền

Gió hòa bình bay về muôn hướng

…Một đoàn tầu đi nhả khói ấm hai ven rừng,

Một đàn gà cao tiếng gáy đánh thức bình minh

…Mặt đất ưu tư đã nở nụ cười

Và liên tưởng đến một nhạc khúc khác, cũng của Trịnh Công Sơn:

Ta cùng lên đường đi xây lại Việt Nam…

Những đứa con là sông, mừng hôm nay xóa hết căm hờn

Mượn phù sa lấp trên điêu tàn, lòng nhân ái lên nụ hồng.

Trong không khí đó có lẽ ai cũng mơ về một nước Việt Mam mới. Mà không chỉ người Việt Nam. Người nước ngoài cũng nhìn đến Việt Nam với cặp mắt tin tưởng, mong đợi.

Giấc mơ thứ nhất

Cuối năm 1975, trong những số báo đặc biệt đón năm mới ở Nhật Bản, tôi có ấn tượng mạnh nhất là tuần báo Economisuto (Kinh tế). Trên trang bìa trước, họ in ảnh chân dung của gần 10 nhà lãnh đạo của những nước mà họ cho là sẽ có ảnh hưởng đến chính trị và kinh tế thế giới trong những năm tới. Tôi nhớ lúc đó rất xúc động, tự hào khi thấy hình Thủ tướng Phạm Văn Đồng được in cùng với Tổng thống Mỹ, Pháp, Thủ tướng Nhật, Anh, Tây Đức… Lúc đó, thế giới đánh giá rất cao tiềm năng Việt Nam, một dân tộc có truyền thống, có văn hóa và cần cù, ham học; bây giờ trong thời bình và đất nước sắp thống nhất, dân tộc đó sẽ hòa hợp và chung sức xây dựng quê hương, chắc chắn Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ, sẽ có một vị trí xứng đáng trên vũ đài thế giới.

Lúc đó, tại châu Á chỉ có Nhật Bản là nước công nghiệp hiện đại. Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan đã ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nhưng chưa được chú ý vì chưa có sự hiện diện đáng kể trên vũ đài quốc tế.

Việt Nam có thể nhân cơ hội này mở ra một thời đại mới để người dân có thể mơ về một ngày mai xán lạn không? Và giấc mơ kỳ này sẽ chắc chắn trở thành hiện thực hay không?
Rất tiếc là những diễn tiến từ nửa sau thập niên 1970 đã làm giấc mơ ban đầu của tôi về một nước Việt Nam phát triển không thành hiện thực. Sau đó Việt Nam phải mất 18 năm mới được thế giới chú ý trở lại. Trong khi, ở Đông Á, nhiều nước và lãnh thổ công nghiệp mới liên tiếp xuất hiện. Năm 1979, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thường được gọi là Câu lạc bộ của những nước tư bản tiên tiến, mệnh danh là những nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs). Sau đó, một tên gọi khác là những con rồng nhỏ hoặc những con hổ nhỏ ở châu Á.

Do đồng yen của Nhật lên giá đột ngột vào cuối năm 1985, các doanh nghiệp Nhật ồ ạt mở làn sóng đầu tư trực tiếp (FDI), chuyển nhiều ngành công nghiệp sang các nước châu Á mà Thái Lan và Malaysia là những điểm đến chủ yếu. Thành công của Thái Lan và Malaysia đã kích thích Indonesia cải cách thể chế, cải thiện chính sách nên thu hút được tư bản và công nghệ, và nhờ vậy, đã đạt được thành quả phát triển đáng ghi nhận. Năm 1993, Ngân hàng Thế giới công bố bản báo cáo nổi tiếng Kỳ tích của Đông Á, trong đó ngoài NIEs còn bao gồm cả Thái Lan, Malaysia và Indonesia, phân tích những nguyên nhân giúp cho các nước Đông Á vừa phát triển cao độ vừa thực hiện việc phân phối thu nhập tương đối bình đẳng.

Trong lúc Việt Nam loay hoay với các chính sách đối nội, đối ngoại mà phần lớn xem như thất bại (1975-1985) và dò dẫm đổi mới từng bước (1986-1993) thì các nước Đông Á đã chuyển mình theo nhịp với làn sóng công nghiệp mới và tiến lên địa vị quan trọng trên vũ đài thế giới.

Giấc mơ thứ hai

Giấc mơ lần thứ hai của tôi là vào đầu thập niên 1990 khi các điều kiện trong và ngoài nước đã hội đủ để Việt Nam khởi động lại quá trình công nghiệp hóa. Đổi mới bắt đầu cuối năm 1986 nhưng phải mất 5-6 năm mới ổn định kinh tế vĩ mô và mới lập lại quan hệ bình thường với các nước tư bản tiên tiến và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Phát triển châu Á. Các nước tiên tiến và các tổ chức quốc tế này lần đầu tiên tổ chức Hội nghị quốc tế hỗ trợ Việt Nam vào cuối năm 1993, mở đầu một hoạt động thường niên giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng và thể chế kinh tế thị trường.

Trong các nước tiên tiến, Nhật Bản là tích cực nhất. Từ năm 1992, họ đã vận động cộng đồng quốc tế ủng hộ Việt Nam và đóng vai trò quan trọng nhất trong Hội nghị quốc tế hỗ trợ Việt Nam. Điều này rất có ý nghĩa vì Nhật Bản lúc đó là khởi nguồn của dòng thác công nghiệp ở châu Á, là nguồn cung cấp vốn, công nghệ, và tri thức kinh doanh cho các nước đi sau tại vùng này.

Lúc này cũng trùng hợp với hai sự kiện quan trọng là Việt Nam gia nhập ASEAN và nối lại quan hệ bình thường với Mỹ vào năm 1995. Cùng với vị trí địa lý thuận lợi, dân số khá đông và chất lượng lao động được đánh giá cao, tình hình chính trị xã hội ổn định, bối cảnh quốc tế thuận lợi… tiềm năng của Việt Nam một lần nữa được chú ý.

Đặc biệt, ở Nhật, từ năm 1993, xảy ra hiện tượng “bùng nổ Việt Nam”. Các phương tiện truyền thanh, truyền hình luôn thông tin về Việt Nam với những bình luận tích cực về tương lai nước ta. Nhớ lại hồi đó, tôi rất bận, luôn được mời thuyết trình và viết báo về kinh tế Việt Nam. Nhiều đoàn doanh nghiệp Nhật Bản liên tiếp sang Việt Nam thăm dò, điều tra thị trường, tìm các cơ hội đầu tư.

Nhưng đáng tiếc là “bùng nổ Việt Nam” chỉ kéo dài có ba năm, đến đầu năm 1996 xem như tắt ngụm. Lý do là vì chính sách bất cập và thường xuyên thay đổi, liên đến quan hành lang pháp lý và môi trường đầu tư. Thêm vào đó, bộ máy và thủ tục hành chính phức tạp, năng lực và đạo đức của quan chức cũng có vấn đề. Vào giữa thập niên 1990, đồng yen của Nhật lại lên giá đột ngột tạo ra làn sóng mới của FDI từ Nhật, nhưng họ đã đầu tư nhiều ở Thái Lan và Malaysia trong khi điều kiện về hạ tầng không cho phép đầu tư nhiều hơn tại hai nước này. Nhiều công ty Nhật định chọn Việt Nam làm thị trường đầu tư mới. Nhưng do các lý do vừa kể, họ ngần ngại. Đúng lúc đó, Quảng Đông và các tỉnh khác ở ven biển Trung Quốc tích cực cải thiện môi trường và đón nhận dòng thác FDI mới từ Nhật.

Cuối năm ngoái, trong một hội nghị, tôi gặp một cựu quan chức Bộ Ngoại giao Nhật, người phụ trách thương lượng trong quá trình nối lại viện trợ cho Việt Nam năm 1992. Ông nói với tôi với sự tiếc rẻ: Hồi đó chúng tôi tin rằng Việt Nam, chứ không phải Trung Quốc, sẽ phát triển mạnh mẽ, vươn lên thành một nước công nghiệp quan trọng tại vùng Đông Á.

Nhìn lại 40 năm

Trong 40 năm qua, một số thành tựu của đổi mới cũng đáng ghi nhận. Chẳng hạn lúa gạo sản xuất và xuất khẩu tăng nhiều từ cuối thập niên 1980, số hộ nghèo giảm đáng kể và Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008. Tuy nhiên, đó là so sánh với chính mình trong quá khứ. Nếu so với các nước Đông Á khác, giữa Việt Nam với họ còn một khoảng cách lớn. Hàn Quốc từ khi chấm dứt chiến tranh (1953) chỉ cần độ 40 năm là đủ để chuyển biến từ một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một nước tiên tiến.

…………………

>> Xem thêm chi tiết bài viết

Theo Trần Văn Thọ
(Nguồn: Thesaigomtimes, ngày 30/04/2015)

Danh mục liên quan

Thông tin chuyên đề Tin Hoa Sen
image