Từ chỉ đạo về mục tiêu xếp hạng đại học đến tầm nhìn chiến lược cho quốc gia

Trên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, TS. Lê Văn Út – Phó Hiệu trưởng phụ trách nghiên cứu khoa học Đại học Hoa Sen, tác giả Bảng xếp hạng đại học SARAP Ranking, đã chia sẻ nhiều góc nhìn đáng chú ý về mối liên hệ giữa mục tiêu xếp hạng đại học quốc tế và chiến lược phát triển giáo dục đại học gắn với tầm nhìn quốc gia trong bối cảnh mới. Qua đó, bài viết mở ra những suy ngẫm về vai trò của đại học trong việc kiến tạo tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Đặt mục tiêu xếp hạng đại học thực chất cũng chính là đặt mục tiêu nâng tầm năng lực học thuật quốc gia, nâng tầm nghiên cứu khoa học, nâng tầm công nghệ, nâng tầm đổi mới sáng tạo và nâng tầm vị thế quốc gia bản đồ trí tuệ toàn cầu.

Ngày 16/05/2026, tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (16/05/1906–16/05/2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu và chỉ đạo 07 nội dung mang tính chiến lược đối với Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn phát triển mới (GDVN26).

Đặc biệt, trong nội dung chỉ đạo thứ hai, ở phần đề cập đến mục tiêu xếp hạng đại học quốc tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Tôi đồng ý với mục tiêu mà đồng chí Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đặt ra là: đến năm 2030 Trường ta nằm trong nhóm 100 đại học hàng đầu Châu Á và đến 2035 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới. Tôi đề nghị một số ngành mũi nhọn sẽ đứng vào nhóm 100 toàn cầu.”

Học viên tham gia workshop chủ đề “Từ nghiên cứu khoa học đến công bố quốc tế: Cơ sở dữ liệu Scopus” tại Đại học Hoa Sen

Đây là một trong những phát biểu quan trọng liên quan đến chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian gần đây không chỉ bởi việc lãnh đạo cao nhất của đất nước trực tiếp đề cập mục tiêu xếp hạng đại học quốc tế, mà còn bởi cách tiếp cận cho thấy tầm nhìn phát triển giáo dục đại học gắn với chiến lược phát triển quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những động lực cốt lõi của sự phát triển.

Những chỉ đạo này thực sự tạo ra nhiều cảm hứng đối với những người đang nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục đại học, nghiên cứu chiến lược và thực hành xếp hạng đại học, quản trị nghiên cứu khoa học và quốc tế hóa học thuật, cũng như đối với các cơ sở giáo dục đại học khác trong cả nước.

Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm như trên, tác giả thấy mở ra nhiều cơ hội và những vấn đề cần quan tâm dưới đây.

Chỉ đạo về mục tiêu xếp hạng đại học từ rất sớm

Vào ngày 18/11/2024, nhân dịp kỷ niệm 42 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu chúc mừng và đồng thời chỉ đạo 03 vấn đề mang tính chiến lược đối với ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Trong đó, có đoạn nhấn mạnh: “Phấn đấu tăng hạng giáo dục Việt Nam trên bản đồ giáo dục khu vực và quốc tế, cụ thể đến năm 2030 Việt Nam trong 03 nước đứng đầu ASEAN về số lượng các công bố quốc tế và chỉ số ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu khoa học; có trường đại học lọt Top 100 trường hàng đầu trên thế giới” (GDVN24).

TS. Lê Văn Út – Phó Hiệu trưởng Phụ trách Nghiên cứu khoa học Đại học Hoa Sen chia sẻ tại workshop “Chiến lược phát triển Nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Hoa Sen trong kỷ nguyên mới”

Như vậy, chỉ sau hơn 100 ngày nhậm chức Tổng Bí thư với rất nhiều công việc chiến lược ở tầm quốc gia, lãnh đạo Đảng vẫn dành sự quan tâm rất lớn đối với giáo dục của đất nước, đặc biệt là giáo dục đại học. Việc trực tiếp đề cập đến công bố quốc tế, chỉ số ảnh hưởng khoa học và mục tiêu đại học Top 100 thế giới cho thấy một tư duy phát triển mang tầm khu vực và toàn cầu, trong đó giáo dục đại học, khoa học công nghệ và tri thức được nhìn nhận như những nền tảng cốt lõi cho sự phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Việc lãnh đạo cao nhất của đất nước đặt ra những mục tiêu cụ thể và rất cao đối với giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng mạnh mẽ có ý nghĩa rất chiến lược. Điều này cho thấy một khát vọng phát triển rất lớn, một tinh thần dám nghĩ lớn, đặt mục tiêu lớn và mong muốn Việt Nam phải vươn lên mạnh mẽ hơn trên bản đồ học thuật và khoa học quốc tế.

Việc nhấn mạnh đồng thời cả số lượng công bố quốc tế, chỉ số ảnh hưởng khoa học và mục tiêu đại học Top 100 thế giới cũng cho thấy cách tiếp cận không chỉ dừng ở số lượng mà đã bắt đầu chú trọng đến chất lượng, tầm ảnh hưởng và vị thế học thuật quốc tế. Điều đó phản ánh một tầm nhìn phát triển giáo dục đại học gắn chặt với năng lực cạnh tranh quốc gia, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Từ chỉ đạo đến các nghị quyết của Bộ Chính trị có liên quan xếp hạng đại học

Điều rất đáng trân trọng là chỉ sau hơn một tháng phát biểu tại Lễ kỷ niệm 42 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam, trong đó có nội dung chỉ đạo về mục tiêu xếp hạng đại học, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là những lĩnh vực mang tính quyết định đối với vị thế của các cơ sở giáo dục đại học trên các bảng xếp hạng quốc tế. Tiếp theo đó là Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo với các mục tiêu rất cụ thể về xếp hạng đại học đến năm 2030: “Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.”

Việc cụ thể hóa bằng các nghị quyết của Bộ Chính trị để từ đó Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành có cơ sở xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế và các giải pháp triển khai thực hiện.

Cách tiếp cận này cho thấy rõ các định hướng chiến lược không chỉ dừng ở tinh thần hay khẩu hiệu chung chung, mà được chuyển hóa thành các mục tiêu cụ thể, có khả năng đo lường, có lộ trình thực hiện và có cơ sở để tổ chức triển khai trong thực tiễn.

Mục tiêu xếp hạng đại học và tầm nhìn chiến lược quốc gia

Thực tiễn phát triển trên thế giới cho thấy, không ít quốc gia và vùng lãnh thổ có nền kinh tế rất mạnh nhưng lại không sở hữu nhiều tài nguyên thiên nhiên. Nền tảng phát triển của các quốc gia này chủ yếu dựa vào kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao. Trong chiến lược đó, các cơ sở giáo dục đại học luôn giữ vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra tri thức mới, phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phiện thảo luận về mảng Công nghiệp Văn hóa, chủ đề: Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam: Triển vọng và Thách thức, nằm trong trong chuỗi Workshop Phát triển nghiên cứu khoa học tại ĐH Hoa Sen

Thực tế cũng cho thấy, nhiều quốc gia có hệ thống đại học mạnh thường đồng thời là những quốc gia có năng lực đổi mới sáng tạo cao, có sức mạnh công nghệ lớn và có ảnh hưởng học thuật quốc tế đáng kể. Các đại học hàng đầu không chỉ là nơi đào tạo hay nghiên cứu khoa học, mà còn trở thành các trung tâm tri thức chiến lược, nơi hình thành các công nghệ lõi, các mô hình phát triển mới, các luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách và cả sức mạnh mềm học thuật của quốc gia.

Việc Việt Nam trong thời gian gần đây liên tục đặt ra các mục tiêu cụ thể về xếp hạng đại học từ cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước, đồng thời thể chế hóa trong các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, cho thấy một tầm nhìn chiến lược về phát triển quốc gia dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặt mục tiêu xếp hạng đại học thực chất cũng chính là đặt mục tiêu nâng tầm năng lực học thuật quốc gia, nâng tầm nghiên cứu khoa học, nâng tầm công nghệ, nâng tầm đổi mới sáng tạo và nâng tầm vị thế quốc gia bản đồ trí tuệ toàn cầu.

Xét thực tiễn Việt Nam hiện nay, chỉ cần mỗi giảng viên đại học công bố trung bình khoảng 0,3 bài báo Scopus/WoS mỗi năm (theo chuẩn các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành) thì mục tiêu thuộc nhóm 03 quốc gia dẫn đầu ASEAN về công bố quốc tế là khả thi. Tương tự, nếu chỉ khoảng 50% cơ sở giáo dục đại học mỗi năm tạo ra ít nhất một sản phẩm công nghệ “Made in Vietnam” được thương mại hóa, thì đất nước sẽ có thêm hàng trăm công nghệ, giải pháp và sản phẩm mới được hình thành từ chính hệ thống đại học. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn của giáo dục đại học Việt Nam nếu được định hướng đúng, đầu tư phù hợp và có cơ chế phát triển đủ mạnh.

Việc đặt ra mục tiêu xếp hạng đại học không chỉ mang ý nghĩa về phát triển bền vững giáo dục đại học đơn thuần mà còn là một minh chứng cho tầm nhìn chiến lược quốc gia trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và cạnh tranh toàn cầu hiện nay. Điều này cho thấy giáo dục đại học đang dần được nhìn nhận không chỉ như một lĩnh vực đào tạo nhân lực, mà còn là một nền tảng chiến lược cho năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Mục tiêu xếp hạng đại học và gợi mở chiến lược phát triển

Trong thực tiễn phát triển quốc gia, rất nhiều lĩnh vực chỉ có thể phát triển mạnh khi được đặt trong một chiến lược quốc gia rõ ràng với các mục tiêu cụ thể. Lĩnh vực đó sẽ được quan tâm quy hoạch, tạo cơ chế phát triển, ưu tiên nguồn lực và mở ra nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ trong dài hạn.

TS. Lê Văn Út tặng hoa tri ân các chuyên gia báo cáo tại Hội thảo về Giáo dục khai phóng và Công nghiệp văn hóa tại Đại học Hoa Sen.

Đối với giáo dục đại học cũng vậy. Trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu hiện nay, việc đặt ra mục tiêu xếp hạng đại học thực chất không đơn thuần là câu chuyện “thứ hạng”, mà là một cách gợi mở chiến lược phát triển. Bởi để đạt được các mục tiêu xếp hạng quốc tế, các cơ sở giáo dục đại học buộc phải phát triển mạnh về nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chất lượng đào tạo, quốc tế hóa học thuật, chất lượng đội ngũ, chuyển giao công nghệ, năng lực quản trị đại học hiện đại và các khía cạnh liên quan khác.

Quá trình phát triển thường diễn ra theo logic khá rõ: khi một mục tiêu chiến lược được xác lập ở cấp quốc gia thì mục tiêu đó sẽ dần được thể chế hóa trong các nghị quyết, chính sách và quy hoạch phát triển; từ đó tạo cơ sở cho việc đầu tư, ưu tiên nguồn lực, xây dựng cơ chế đặc thù và huy động sự tham gia của toàn hệ thống. Khi có đủ cơ chế, nguồn lực và động lực phát triển thì các cơ sở giáo dục đại học sẽ có điều kiện phát triển mạnh hơn, và kết quả xếp hạng quốc tế khi đó sẽ trở thành hệ quả tự nhiên của quá trình phát triển chất lượng thực chất.

Do đó, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo Đại học Quốc gia Hà Nội phấn đấu vào Top 100 đại học hàng đầu châu Á đến năm 2030 và Top 300 đại học hàng đầu thế giới đến năm 2035 thực chất không chỉ là giao một mục tiêu xếp hạng đơn thuần. Đây đồng thời cũng là một gợi mở chiến lược và mở ra cơ hội phát triển rất lớn cho Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian tới.

Các cơ sở giáo dục đại học khó phát triển mạnh nếu thiếu mục tiêu đủ lớn

Trong thực tiễn phát triển giáo dục đại học, rất khó để một cơ sở giáo dục đại học có thể phát triển mạnh mẽ nếu thiếu các mục tiêu đủ lớn và đủ rõ ràng. Khi không có mục tiêu chiến lược, đặc biệt là các mục tiêu có khả năng đo lường như nghiên cứu khoa học, kiểm định chất lượng đào tạo, quốc tế hóa, chuyển đổi số hay xếp hạng đại học, thì rất khó để xây dựng các kế hoạch phát triển dài hạn. Đồng thời, cũng rất khó để thuyết phục cho các quyết định đầu tư hay tập trung nguồn lực cho các hướng phát triển trọng điểm.

Không có mục tiêu phát triển đủ lớn, nhiều cơ sở giáo dục đại học rất dễ vận hành theo quán tính nhằm giải quyết các nhu cầu tồn tại thường ngày hơn là hướng đến các bước phát triển mang tính đột phá. Khi đó, áp lực đổi mới thường không lớn, nhu cầu quốc tế hóa không cao, động lực nâng cao chất lượng đào tạo chưa mạnh và các hoạt động quản trị đại học cũng khó chuyển sang các chuẩn mực hiện đại hơn. Việc này có thể làm giảm ưu thế phát triển so với các cơ sở giáo dục đại học khác trong và ngoài nước.

Đối với quản trị đại học, mục tiêu phát triển đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra động lực cải cách. Khi đặt ra các mục tiêu lớn như xếp hạng đại học với rất nhiều tiêu chí đánh giá năng lực khác nhau, các cơ sở giáo dục đại học buộc phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng đội ngũ, kiểm định chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, năng lực đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái học thuật, hợp tác quốc tế, chuyển đổi số, việc làm của người học sau tốt nghiệp, uy tín học thuật, hiệu quả quản trị đại học và các khía cạnh liên quan khác. Chính những mục tiêu đó tạo ra áp lực phát triển, đồng thời cũng tạo ra động lực để thay đổi.

Không ít cơ sở giáo dục đại học không đặt ra các mục tiêu xếp hạng hoặc các mục tiêu phát triển học thuật dễ dừng lại ở việc giải quyết các bài toán tồn tại và vận hành ngắn hạn. Trong nhiều trường hợp, sự ổn định có thể được duy trì nhưng khó tạo ra các bước phát triển mạnh mẽ và bền vững trong dài hạn.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng mọi cơ sở giáo dục đại học đều phải theo đuổi các bảng xếp hạng quốc tế theo cùng một cách tiếp cận. Vẫn có những cơ sở giáo dục đại học phát triển rất tốt theo những định hướng đặc thù riêng như đào tạo ứng dụng, phục vụ cộng đồng, giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao hoặc các mô hình chuyên biệt khác, trong đó có những cơ sở không chịu áp lực lớn về xếp hạng đại học. Dù vậy, ngay cả trong những trường hợp đó, các cơ sở giáo dục đại học vẫn cần những mục tiêu phát triển đủ rõ ràng, đủ lớn và đủ dài hạn để tạo động lực đổi mới, nâng cao chất lượng và phát triển bền vững.

Xét trên thực tiễn phát triển và thành tựu xếp hạng hiện nay, có thể thấy Đại học Quốc gia Hà Nội (VNUHN) vốn đã là một trong những cơ sở giáo dục đại học có vị thế học thuật thuộc nhóm hàng đầu của Việt Nam. Trên nhiều bảng xếp hạng đại học uy tín, VNUHN đã đạt được nhiều thứ hạng đáng chú ý ở cấp độ quốc gia và cả cấp độ châu Á, thế giới; cụ thể như sau:

Bảng xếp hạngViệt NamChâu ÁThế giới
VNUR1
SARAP2
SCImago209596840
ARWU
THE601 – 8001201 – 1500
US News
QS158761 – 770
URAP1048

Những dữ liệu này cho thấy mục tiêu Top 100 châu Á vào năm 2030 và Top 300 thế giới vào năm 2035 đối với VNUHN tuy có thể thách thức nhưng không phải là không có cơ sở để thực hiện.

Hơn nữa, thực tiễn xếp hạng đại học quốc tế của Việt Nam trong thời gian gần đây cũng cho thấy nhiều tín hiệu rất tích cực. Hiện nay, Việt Nam đã có ít nhất 02 cơ sở giáo dục đại học vào Top 100 châu Á theo US News; trong đó có 01 cơ sở thuộc Top 300 thế giới và 01 cơ sở thuộc Top 400 thế giới theo US News. Đồng thời, Việt Nam cũng đã có 01 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 501–600 thế giới theo THE.

Những kết này càng cho thấy chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là hoàn toàn đúng đắn và dựa trên những nền tảng phát triển và năng lực học thuật thực tế mà giáo dục đại học Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua. Điều này cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang dần hình thành những nền tảng quan trọng để có thể hướng đến các mục tiêu học thuật và xếp hạng quốc tế cao hơn trong tương lai.

Nguồn động lực cho SARAP Ranking

SARAP Ranking được triển khai từ năm 2024 nhằm xếp hạng thành tựu nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, qua đó đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm trong cộng đồng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học (SARAP24, SARAP25).

Đối với SARAP Ranking, những chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước là nguồn động lực to lớn thúc đẩy chúng tôi từng bước mở rộng hệ thống xếp hạng trong thời gian tới, không chỉ ở phạm vi Việt Nam mà còn hướng đến việc nghiên cứu khả năng mở rộng ra khu vực, châu lục và thế giới trong các giai đoạn tiếp theo.

Dù có thể sẽ gặp nhiều thách thức phía trước, nhưng những định hướng chiến lược từ lãnh đạo cao nhất của đất nước đang tạo thêm niềm tin và động lực phát triển đối với một bảng xếp hạng đại học “Made in Vietnam” hướng tới phạm vi mở rộng ra ngoài Việt Nam. Qua đó, góp phần thu hút thêm sự quan tâm của cộng đồng học thuật quốc tế đối với Việt Nam.

TRỞ THÀNH TÂN SINH VIÊN ĐẠI HỌC HOA SEN

🔗 Fanpage: facebook.com/HoaSenUni

🔎 Tuyển sinh: tuyensinh.hoasen.edu.vn

GỌI HOTLINE: 028 7300 7272

Nguồn: giaoduc.net.vn

Error: Contact form not found.

Facebook Youtube Tiktok Zalo